Giá trần là mức giá cao nhất, giá sàn là mức giá thấp nhất mà lệnh mua, bán một cổ phiếu được đặt trong một ngày giao dịch, tính bằng giá tham chiếu cộng hoặc trừ biên độ dao động của sàn. Biên độ hiện là ±7% trên HOSE, ±10% trên HNX và ±15% trên UPCoM. Một cổ phiếu HOSE có giá tham chiếu 25.000 đồng thì hôm đó chỉ được giao dịch trong khoảng 23.250 đến 26.750 đồng.
Giá tham chiếu là mốc để tính trần, sàn: trên HOSE và HNX là giá đóng cửa của phiên trước, trên UPCoM là giá bình quân gia quyền của phiên trước. Bài này giải thích ba khái niệm và các trường hợp biên độ nới rộng. Giờ giao dịch, bước giá và loại lệnh nằm ở bài giờ giao dịch và các loại lệnh chứng khoán.
Giá trần, giá sàn tính thế nào?
Giá trần = giá tham chiếu + giá tham chiếu × biên độ; giá sàn = giá tham chiếu − giá tham chiếu × biên độ; sau đó giá trần làm tròn xuống, giá sàn làm tròn lên theo bước giá (Điều 32 Quy chế ban hành kèm Quyết định 22/QĐ-HĐTV ngày 16/03/2026). UPCoM dùng cùng công thức tại Điều 19 Quy chế UPCoM ban hành kèm Quyết định 23/QĐ-HĐTV ngày 18/03/2026.
Cùng giá tham chiếu 25.000 đồng, khung giá trên ba sàn khác nhau như sau:
| Sàn | Biên độ | Bước giá ở mức 25.000 (đồng) | Giá trần (đồng) | Giá sàn (đồng) |
|---|---|---|---|---|
| HOSE | ±7% | 50 | 26.750 | 23.250 |
| HNX | ±10% | 100 | 27.500 | 22.500 |
| UPCoM | ±15% | 100 | 28.700 | 21.300 |
Nguồn: Điều 32 và Phụ lục III Quy chế ban hành kèm Quyết định 22/QĐ-HĐTV ngày 16/03/2026; Điều 18, 19 Quy chế UPCoM ban hành kèm Quyết định 23/QĐ-HĐTV ngày 18/03/2026. Cập nhật 26/10/2026.
Dòng UPCoM cho thấy tác dụng của làm tròn: 25.000 × 1,15 = 28.750, làm tròn xuống theo bước 100 thành 28.700; 25.000 × 0,85 = 21.250, làm tròn lên thành 21.300. Trần và sàn luôn bị kéo vào phía trong khung, nên biên độ thực tế có thể hẹp hơn con số danh nghĩa một chút.
Mã giá rất thấp là trường hợp ngược lại. Một cổ phiếu HOSE giá tham chiếu 100 đồng (bước giá 10 đồng): 100 × 1,07 = 107, làm tròn xuống thành 100, bằng đúng giá tham chiếu. Khi đó quy chế nới trần, sàn thêm một bước giá (Điều 32 khoản 3), nên trần là 110 và sàn là 90, tức biên độ thực tế ±10%.
Giá tham chiếu là gì, lấy từ đâu?
Giá tham chiếu là mức giá Sở dùng làm gốc để tính giá trần, giá sàn của một ngày; trên HOSE và HNX đó là giá đóng cửa của ngày giao dịch gần nhất trước đó (Điều 33 khoản 2). Giá đóng cửa là giá của lần khớp lệnh lô chẵn cuối cùng trong ngày; ngày nào không có khớp lô chẵn thì giá đóng cửa lấy bằng giá tham chiếu đầu ngày (Điều 3 khoản 17).
Các trường hợp còn lại:
- UPCoM: giá tham chiếu là bình quân gia quyền các giá khớp lô chẵn theo phương thức khớp lệnh liên tục của ngày giao dịch gần nhất trước đó (Điều 20 khoản 4 Quy chế UPCoM), không phải giá đóng cửa.
- Ngày đầu niêm yết: giá tham chiếu do tổ chức niêm yết đề xuất, kèm phương pháp xác định (Điều 33 khoản 1).
- Giao dịch trở lại sau khi bị tạm ngừng, đình chỉ từ 25 ngày giao dịch liên tiếp: Sở quyết định giá tham chiếu (Điều 33 khoản 3).
- Tách, gộp cổ phiếu: lấy giá đóng cửa trước ngày tách, gộp, điều chỉnh theo tỷ lệ (Điều 33 khoản 5).
- Lô lẻ không được dùng để xác định giá tham chiếu (Điều 34 khoản 4).
Giá tham chiếu khác gì giá đóng cửa và giá mở cửa?
Trên HOSE và HNX, giá tham chiếu hôm nay thường bằng giá đóng cửa hôm qua; giá mở cửa là giá khớp của đợt ATO sáng nay (chỉ HOSE có phiên này), có thể cao hoặc thấp hơn giá tham chiếu trong phạm vi trần, sàn. Hai con số lệch nhau ở ngày giao dịch không hưởng quyền (mục dưới) và ở UPCoM, nơi giá tham chiếu là giá bình quân chứ không phải giá khớp cuối.
Ngày không hưởng quyền, giá tham chiếu điều chỉnh ra sao?
Vào ngày giao dịch không hưởng quyền, giá tham chiếu bằng giá đóng cửa phiên trước điều chỉnh theo giá trị cổ tức hoặc quyền mà người mua từ hôm đó không còn được nhận (Điều 33 khoản 4).
Ví dụ với công ty A giả định, niêm yết trên HOSE, mệnh giá 10.000 đồng:
- Giá đóng cửa phiên liền trước ngày không hưởng quyền: 25.000 đồng.
- Cổ tức tiền mặt 20% mệnh giá, tức 2.000 đồng mỗi cổ phiếu.
- Giá tham chiếu ngày không hưởng quyền: 25.000 − 2.000 = 23.000 đồng (quy chế chỉ nêu nguyên tắc điều chỉnh theo giá trị cổ tức, không ghi công thức số; với cổ tức tiền, ví dụ trừ thẳng số tiền cổ tức).
- Giá trần: 23.000 × 1,07 = 24.610, làm tròn xuống theo bước 50 thành 24.600 đồng.
- Giá sàn: 23.000 × 0,93 = 21.390, làm tròn lên thành 21.400 đồng.
Bảng giá sáng hôm đó hiện mã A thấp hơn hôm trước 2.000 đồng dù chưa có lệnh nào khớp. Người đã có tên trong danh sách cổ đông nhận 2.000 đồng tiền mặt sau, nên đó không phải khoản lỗ. Ai đặt lệnh mua theo giá nhớ từ hôm trước (25.000 đồng) sẽ đặt trên giá trần mới 24.600 đồng; lệnh điều kiện cài sẵn trên app cũng nên kiểm lại giá vào những ngày này.
Quy chế không điều chỉnh giá tham chiếu trong một số trường hợp: phát hành thêm với giá bằng hoặc cao hơn giá đóng cửa, cổ tức tiền bằng hoặc lớn hơn giá đóng cửa, cổ tức, thưởng bằng cổ phiếu quỹ (Điều 33 khoản 4); phát hành riêng lẻ, phát hành cho người lao động, phát hành trái phiếu chuyển đổi, giảm vốn điều lệ (khoản 6). Vài trường hợp trong số này được nới biên độ thay cho điều chỉnh giá, xem mục tiếp theo.
Khi nào biên độ được nới rộng?
Biên độ nới lên ±20% trên HOSE, ±30% trên HNX và ±40% trên UPCoM vào ngày giao dịch đầu tiên của mã mới lên sàn, khi mã giao dịch trở lại sau từ 25 phiên ngừng, và vào một số ngày không hưởng quyền (Điều 31 khoản 3 và Phụ lục III Quy chế 2026; Điều 19 khoản 2 Quy chế UPCoM).
| Trường hợp | HOSE | HNX | UPCoM |
|---|---|---|---|
| Ngày giao dịch thông thường | ±7% | ±10% | ±15% |
| Ngày giao dịch đầu tiên, tới khi có giá khớp lô chẵn | ±20% | ±30% | ±40% |
| Giao dịch trở lại sau từ 25 phiên ngừng | ±20% | ±30% | ±40% |
| Ngày không hưởng quyền: cổ tức tiền bằng hoặc lớn hơn giá đóng cửa, cổ tức hoặc thưởng bằng cổ phiếu quỹ, tách doanh nghiệp | ±20% | ±30% | ±40% |
Nguồn: Phụ lục III Quy chế ban hành kèm Quyết định 22/QĐ-HĐTV ngày 16/03/2026; Điều 19 Quy chế UPCoM ban hành kèm Quyết định 23/QĐ-HĐTV ngày 18/03/2026. HNX và UPCoM còn nới biên độ ở ngày không hưởng quyền chuyển đổi trái phiếu chuyển đổi cho cổ đông hiện hữu. Trên UPCoM, so sánh cổ tức tiền với giá bình quân gia quyền thay cho giá đóng cửa, và mốc 25 phiên tính theo số ngày không có giao dịch. Cập nhật 26/10/2026.
Ví dụ một cổ phiếu mới niêm yết trên HOSE với giá tham chiếu do doanh nghiệp đề xuất 25.000 đồng: phiên đầu tiên trần 30.000, sàn 20.000 đồng. Từ khi đã có giá đóng cửa từ khớp lô chẵn, mã quay về biên độ ±7%.
Logic chung: khi một sự kiện làm giá cũ không còn là mốc đáng tin (chưa có lịch sử giá, ngừng giao dịch lâu, cổ tức lớn hơn cả thị giá), Sở không tự điều chỉnh giá tham chiếu mà để thị trường tìm giá trong khung rộng hơn. Với mã đã ngừng giao dịch lâu, lý do bị ngừng có ở bài cổ phiếu bị cảnh báo là gì.
Cổ phiếu tăng trần, giảm sàn nghĩa là gì?
Tăng trần là khi giá khớp của cổ phiếu chạm giá trần của ngày, giảm sàn là khi giá khớp chạm giá sàn; không thể khớp cao hơn trần hay thấp hơn sàn trong ngày đó. Khi một mã đứng ở giá trần, bên mua thường xếp hàng ở đúng giá trần còn bên bán gần như không còn lệnh chờ, dân trong nghề gọi là “trắng bên bán”; giảm sàn thì ngược lại, “trắng bên mua”.
Vì không trả cao hơn trần được, lệnh mua ở giá trần xếp hàng theo thời gian đặt lệnh. Từ khi hệ thống KRX vận hành, lệnh ATO, ATC không còn được ưu tiên trước lệnh LO mua giá trần hoặc bán giá sàn đã vào hệ thống trước đó (FAQ KRX của DNSE).
Giá trần hôm nay không phải giới hạn của ngày mai. Nếu mã ở ví dụ đầu bài đóng cửa ở trần 26.750 đồng, giá tham chiếu hôm sau là 26.750, trần mới 26.750 × 1,07 = 28.622,5, làm tròn xuống thành 28.600 đồng, sàn mới 26.750 × 0,93 = 24.877,5, làm tròn lên thành 24.900 đồng. Hai phiên tăng trần liên tiếp đưa giá từ 25.000 lên 28.600, tức khoảng 14,4%: biên độ ngày thứ hai tính trên giá tham chiếu mới, rồi giá trần bị làm tròn xuống theo bước giá.
Giá trần, giá sàn chứng khoán khác gì giá trần trong kinh tế học?
Trong kinh tế học, giá trần là mức giá tối đa nhà nước áp cho một hàng hóa và đứng yên tới khi có quyết định mới; giá trần chứng khoán đổi mỗi ngày theo giá tham chiếu và do quy chế của Sở tính cho từng mã. Biên độ phần trăm mới là thứ cố định, không phải mức giá.
Cũng đừng nhầm biên độ với bước giá. Biên độ quyết định khung giá trong ngày (ví dụ ±7%), còn bước giá là khoảng cách nhỏ nhất giữa hai mức giá được đặt trong khung đó (10, 50 hoặc 100 đồng tùy mức giá trên HOSE).
Hợp đồng tương lai VN30 có giá trần, giá sàn không?
Có, hợp đồng tương lai chỉ số VN30 có biên độ ±7% so với giá tham chiếu theo đặc tả của HNX. Với giá tham chiếu 1.900 điểm, trần là 1.900 × 1,07 = 2.033 điểm và sàn là 1.900 × 0,93 = 1.767 điểm. Khác cổ phiếu, phái sinh tính bằng điểm, bước giá 0,1 điểm, mỗi điểm nhân hệ số 100.000 đồng. Cách đặt lệnh và ký quỹ nằm ở bài hướng dẫn giao dịch phái sinh.
Từ 28/12/2026, cổ phiếu HNX dùng biên độ nào?
Cổ phiếu niêm yết trên HNX giao dịch phiên cuối ngày 23/12/2026 và chuyển sang HOSE từ 28/12/2026, khi đó theo quy tắc HOSE: biên độ ±7% thay cho ±10%, bước giá theo mức giá. Một mã giá tham chiếu 25.000 đồng hiện có khung 22.500 đến 27.500 đồng trên HNX; theo quy tắc HOSE, khung thu lại còn 23.250 đến 26.750 đồng.
Giá tham chiếu và biên độ của riêng phiên 28/12/2026 cho các mã chuyển sang chưa được công bố tính đến ngày 24/10/2026. Lịch và các thay đổi khác nằm ở bài HNX chuyển sang HOSE. Thông báo ngày 30/09/2026 của VNX chỉ nói về cổ phiếu niêm yết; việc cổ phiếu UPCoM có chuyển hay không còn chưa rõ, bài chuyển sàn trình bày cả hai cách đọc văn bản. Đến khi có quyết định khác, UPCoM vẫn dùng biên độ ±15%.



