Call margin là lệnh gọi ký quỹ bổ sung: công ty chứng khoán (CTCK) yêu cầu bạn nộp thêm tiền, thêm chứng khoán hoặc bán bớt cổ phiếu vì tỷ lệ ký quỹ trên tài khoản vay margin đã xuống dưới mức duy trì. Theo quy chế của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), thời hạn CTCK cho bạn bổ sung không được quá 3 ngày làm việc, con số cụ thể nằm trong hợp đồng và mỗi CTCK một khác; quá hạn mà chưa đủ, hoặc tỷ lệ rơi xuống ngưỡng xử lý, CTCK bán giải chấp (force sell). Cắt margin là chuyện khác: một mã bị loại khỏi danh mục cho vay, nhưng hệ quả có thể đẩy tài khoản của bạn vào call margin.
Bài này phân biệt ba khái niệm, đưa công thức giá call và giá force sell cho cả hai kiểu tính CTCK đang dùng, kèm ví dụ số, trình tự xử lý và cách cắt margin đẩy tài khoản vào diện bị call. Nếu bạn chưa rõ tỷ lệ ký quỹ, tỷ lệ cho vay là gì, đọc trước bài margin là gì.
Call margin là gì?
Call margin là thông báo CTCK gửi khi tỷ lệ ký quỹ của bạn thấp hơn tỷ lệ ký quỹ duy trì, yêu cầu bạn bổ sung tài sản hoặc bán chứng khoán để đưa tỷ lệ về ít nhất mức duy trì trong một thời hạn nhất định. Quy chế hướng dẫn giao dịch ký quỹ (ban hành kèm Quyết định 87/QĐ-UBCK) gọi đây là “lệnh gọi ký quỹ bổ sung” (Điều 7):
- Bạn có nghĩa vụ giữ tỷ lệ ký quỹ không thấp hơn tỷ lệ duy trì. Quy chế đặt mức sàn 30%, CTCK được đặt cao hơn.
- Bạn phải bổ sung “trong thời hạn theo yêu cầu của công ty chứng khoán nhưng không quá ba (03) ngày làm việc”; thời hạn cụ thể do CTCK và bạn thỏa thuận trong hợp đồng (Điều 7 khoản 1). Đây là mức trần cho thời hạn CTCK được yêu cầu bạn bổ sung, không phải mốc CTCK buộc phải bán.
- CTCK gửi lệnh gọi qua các phương thức liên hệ đã thỏa thuận trong hợp đồng mở tài khoản ký quỹ.
- CTCK phải xác định tỷ lệ ký quỹ của từng tài khoản vào cuối mỗi ngày giao dịch; thời điểm cụ thể do CTCK thỏa thuận với bạn (Điều 6).
Bị call margin chưa có nghĩa là bị bán. Đây là cảnh báo có thời hạn để bạn tự xử lý.
Force sell (bán giải chấp) là gì?
Force sell, hay bán giải chấp, là việc CTCK tự bán chứng khoán trên tài khoản ký quỹ của bạn để thu hồi nợ khi bạn không bổ sung đủ trong thời hạn call, khi tỷ lệ rơi xuống ngưỡng xử lý, hoặc khi khoản vay đến hạn mà chưa trả. Quy chế gọi là “xử lý tài sản thế chấp” (Điều 8):
- CTCK “có quyền” bán chứng khoán thế chấp khi bạn không bổ sung hoặc bổ sung không đủ trong thời hạn của lệnh gọi (khoản 1). Quy chế không ấn định CTCK phải bán vào ngày nào; lịch bán cụ thể nằm trong hợp đồng và chính sách của từng CTCK.
- CTCK được bán một phần hoặc toàn bộ chứng khoán, tùy phần tài sản còn thiếu.
- Trước khi bán, CTCK phải thông báo cho bạn; sau khi bán, phải gửi sao kê kết quả.
- Bán hết mà vẫn không đủ trả nợ, CTCK thu hồi phần còn lại theo hợp đồng và pháp luật. Nói cách khác, bạn có thể mất hết vốn mà vẫn còn nợ.
Bạn không chọn được giá và thời điểm bán. DNSE ghi rõ: khi tỷ lệ Rtt dưới 80%, “DNSE sẽ tự động bán chứng khoán trong tài khoản của Khách hàng với giá sàn”. Khoản vay đến hạn cũng là một lý do bị xử lý: SSI xử lý khoản vay đến hạn tối đa 2 ngày làm việc sau ngày đến hạn.
Cắt margin là gì?
Cắt margin là việc một mã chứng khoán bị đưa ra khỏi danh mục cho vay ký quỹ, do Sở giao dịch đưa mã đó vào danh sách không đủ điều kiện hoặc do CTCK tự rút theo chính sách riêng. Khi một mã bị cắt (Điều 10 khoản 2):
- CTCK không cho vay mới để mua mã này.
- Mã này không được tính vào tài sản thực có trên tài khoản ký quỹ.
- Mã này vẫn là tài sản bảo đảm cho khoản vay đang có, trừ khi hợp đồng thỏa thuận khác.
Cắt margin không bắt bạn bán ngay. Nhưng nếu bạn đang vay, phần tài sản được tính co lại nên tỷ lệ của tài khoản tụt, có thể chạm ngưỡng call dù giá không giảm. Một dạng nhẹ hơn là hạ tỷ lệ cho vay (ví dụ từ 50% xuống 30%), cũng kéo tỷ lệ tài khoản xuống.
| Call margin | Force sell (bán giải chấp) | Cắt margin | |
|---|---|---|---|
| Là gì | Lệnh yêu cầu bổ sung ký quỹ | CTCK bán chứng khoán để thu nợ | Mã bị loại khỏi danh mục cho vay |
| Xảy ra khi | Tỷ lệ của tài khoản dưới mức duy trì | Hết hạn call chưa đủ, tỷ lệ chạm ngưỡng xử lý, hoặc khoản vay quá hạn | Sở công bố mã không đủ điều kiện, hoặc CTCK rút mã, hạ tỷ lệ |
| Phạm vi | Tài khoản của bạn | Tài khoản của bạn | Một mã, áp cho mọi khách của CTCK |
| Bạn làm được gì | Nộp tiền, bổ sung chứng khoán, bán bớt | Gần như không, CTCK chủ động | Kiểm tra lại tỷ lệ, chuẩn bị tiền nếu đang vay mã đó |
Ngưỡng call margin và force sell ở mỗi CTCK khác nhau thế nào?
Mỗi CTCK tự đặt ngưỡng duy trì và ngưỡng xử lý trong hợp đồng, và đang dùng hai kiểu công thức khác nhau, nên con số “35%” ở nơi này và “85%” ở nơi khác không so sánh trực tiếp được.
Kiểu 1, tỷ lệ ký quỹ theo quy chế:
Tỷ lệ ký quỹ = (Tổng tài sản − Dư nợ) / Tổng tài sản
Số càng thấp càng nguy hiểm. Ví dụ thông báo ngày 14/10/2026 của SSI ghi tỷ lệ duy trì tối thiểu 35% và tỷ lệ xử lý từ 25% trở xuống.
Kiểu 2, tỷ lệ thực tế Rtt:
Rtt = Giá trị tài sản bảo đảm quy đổi / (Dư nợ − Tiền − Tiền bán chờ về)
Giá trị tài sản bảo đảm quy đổi = tổng của (Số lượng × Giá căn cứ × Tỷ lệ cho vay) từng mã
Ở KBSV, DNSE và TCBS, mốc ghi dạng 100% (an toàn hoặc ban đầu), 85–87% (duy trì), 80% (xử lý); TCBS ghi duy trì 85%, xử lý 80% theo chính sách từ 07/11/2022. KBSV ghi rằng công thức này tuân thủ quy định về giao dịch ký quỹ của UBCKNN nhưng không hoàn toàn giống công thức trong thông tư hướng dẫn.
Ngưỡng và thời hạn bổ sung cụ thể khác nhau giữa các CTCK (SSI cho tối đa 2 ngày làm việc sau ngày vi phạm, theo thông báo 14/10/2026; MBS duy trì 35%, xử lý 30%, gửi 5 thông báo trong 5 ngày giao dịch liên tiếp trước khi bán, theo chính sách từ 15/10/2026), và CTCK được thay đổi hoặc áp riêng theo từng khách. Bảng ngưỡng duy trì, xử lý của từng CTCK cùng mức sàn trong Quyết định 87/QĐ-UBCK nằm ở bài tỷ lệ margin; con số đúng cho tài khoản của bạn là con số trong hợp đồng và trên app tại thời điểm vay.
Cách tính giá call margin và giá force sell
Giá call margin là mức giá cổ phiếu mà tại đó tỷ lệ của tài khoản chạm ngưỡng duy trì; giá force sell là mức giá chạm ngưỡng xử lý. Với tài khoản chỉ có một mã và không còn tiền mặt:
Kiểu 1 (tỷ lệ ký quỹ):
- Giá call = Dư nợ / [Số cổ phiếu × (1 − Tỷ lệ duy trì)]
- Giá force sell = Dư nợ / [Số cổ phiếu × (1 − Tỷ lệ xử lý)]
Kiểu 2 (Rtt):
- Giá call = Rtt duy trì × Dư nợ / (Số cổ phiếu × Tỷ lệ cho vay)
- Giá force sell = Rtt xử lý × Dư nợ / (Số cổ phiếu × Tỷ lệ cho vay)
Ví dụ đầy đủ
Giả định:
- Vốn 100 triệu đồng, vay 100 triệu đồng, mua 10.000 cổ phiếu A giá 20.000 đồng.
- Tỷ lệ cho vay mã A là 50%. Không còn tiền mặt; chưa tính lãi, phí và thuế.
- Kiểu 1: tỷ lệ duy trì 35%, tỷ lệ xử lý 25% (mức trong thông báo của SSI ngày 14/10/2026).
- Kiểu 2: Rtt duy trì 85%, Rtt xử lý 80% (mức KB-Margin của KBSV áp dụng từ 10/12/2025).
Kiểu 1:
- Giá call = 100.000.000 / (10.000 × 0,65) ≈ 15.385 đồng, thấp hơn giá mua 23,1%.
- Giá force sell = 100.000.000 / (10.000 × 0,75) ≈ 13.333 đồng, thấp hơn giá mua 33,3%.
Kiểu 2:
- Giá call = 0,85 × 100.000.000 / (10.000 × 0,5) = 17.000 đồng, thấp hơn giá mua 15%.
- Giá force sell = 0,80 × 100.000.000 / (10.000 × 0,5) = 16.000 đồng, thấp hơn giá mua 20%.
| Kiểu 1 (35% / 25%) | Kiểu 2 (Rtt 85% / 80%) | |
|---|---|---|
| Giá call | Khoảng 15.385đ (−23,1%) | 17.000đ (−15%) |
| Giá force sell | Khoảng 13.333đ (−33,3%) | 16.000đ (−20%) |
Cùng một khoản vay, với các mốc trên, kiểu 2 gọi ký quỹ khi giá mới giảm 15%, sớm hơn kiểu 1 khoảng 8 điểm %. Vì vậy đừng so ngưỡng giữa các CTCK bằng mắt, hãy quy ra giá. Một hệ quả dễ nhớ của kiểu 2: khi bạn vay đúng bằng tỷ lệ cho vay tối đa của mã, Rtt bằng giá hiện tại chia giá mua. Rtt 85% nghĩa là giá đã giảm 15%, Rtt 80% là giảm 20%.
Bốn yếu tố làm giá call thực tế cao hơn con số tính tay:
- Lãi cộng vào dư nợ. Lãi 13,5%/năm (năm 360 ngày) trên 100 triệu đồng trong 90 ngày là 3.375.000 đồng. Nếu khoản này cộng vào dư nợ, giá call kiểu 1 tăng lên khoảng 15.904 đồng.
- Giá chặn, tỷ lệ tài sản bảo đảm dưới 100%. Khi CTCK định giá cổ phiếu thấp hơn giá thị trường (ví dụ chặn ở một mức giá tối đa), tài sản được tính ít đi và giá call cao lên.
- Danh mục nhiều mã. Mỗi mã có tỷ lệ cho vay riêng, giá chạy khác nhau, nên không còn một “giá call” duy nhất.
- Tỷ lệ cho vay bị hạ. Ở ví dụ kiểu 2, giá vẫn 20.000 đồng, nếu tỷ lệ cho vay mã A bị hạ từ 50% xuống 30% và áp cho dư nợ hiện có, giá trị tài sản bảo đảm quy đổi còn 60 triệu đồng, Rtt = 60%: dưới ngưỡng xử lý 80% dù giá chưa giảm đồng nào. Thời gian chuyển tiếp do từng CTCK quy định, nên đọc kỹ thông báo khi mã bạn đang vay có thay đổi.
Với danh mục thật (nhiều mã, có tiền mặt, ngưỡng riêng của CTCK), dùng công cụ tính giá call margin để ra giá call và giá bị bán giải chấp cho từng tình huống.
Bị call margin thì chuyện gì xảy ra?
Trình tự chung là CTCK xác định tỷ lệ, gửi lệnh gọi ký quỹ, chờ bạn bổ sung trong thời hạn, rồi bán giải chấp nếu vẫn thiếu; riêng khi tỷ lệ rơi xuống ngưỡng xử lý, có CTCK bán ngay.
- Xác định tỷ lệ. Tối thiểu vào cuối mỗi ngày giao dịch (Điều 6 quy chế).
- Gửi lệnh gọi ký quỹ. Qua kênh đã thỏa thuận trong hợp đồng.
- Thời hạn bổ sung. Theo hợp đồng, nhưng quy chế không cho CTCK đặt quá 3 ngày làm việc. Ở SSI là tối đa 2 ngày làm việc sau ngày vi phạm. Ở MBS, bạn nhận 5 thông báo bổ sung ký quỹ trong 5 ngày giao dịch liên tiếp.
- Hết hạn mà chưa đủ. CTCK có quyền bán một phần hoặc toàn bộ chứng khoán thế chấp, sau khi thông báo cho bạn. MBS bán vào ngày gửi thông báo thứ 5 nếu bạn chưa bổ sung nguồn trả nợ.
- Chạm ngưỡng xử lý. CTCK bán giải chấp theo hợp đồng, không chờ hết thời hạn bổ sung. DNSE bán tự động với giá sàn khi Rtt dưới 80%; MBS bán ngay trong ngày thông báo tài khoản vi phạm tỷ lệ xử lý 30%.
- Sau khi bán. Bạn nhận sao kê. Tiền còn lại sau khi trừ dư nợ mới được rút; thiếu thì vẫn nợ.
Thời hạn khoản vay cũng là một mốc: quy chế cho tối đa 3 tháng, gia hạn mỗi lần không quá 3 tháng. SSI và KBSV ghi thời hạn vay 90 ngày. Quá hạn mà không trả hay gia hạn thì khoản vay bị xử lý và chịu lãi quá hạn, ở SSI và KBSV là 150% lãi trong hạn.
Thời gian từ an toàn tới bán giải chấp có thể rất ngắn. Biên độ giá mỗi phiên trên HOSE là ±7%. Từ 20.000 đồng, ba phiên giảm sàn liên tiếp đưa giá về khoảng 16.087 đồng (−19,6%), bốn phiên về khoảng 14.961 đồng (−25,2%), chưa làm tròn theo bước giá. Với kiểu 2 trong ví dụ trên, bốn phiên giảm sàn là đủ để tài khoản rơi qua ngưỡng xử lý. Khi bên mua vắng ở giá sàn, lệnh bán giải chấp có thể không khớp hết, nên khoản lỗ cuối cùng có thể lớn hơn mức tính ở ngưỡng.
Bị call margin nên xử lý thế nào?
Có ba cách được quy chế ghi nhận: nộp thêm tiền, bổ sung chứng khoán làm tài sản thế chấp, hoặc bán bớt chứng khoán; cách nào cũng phải đưa tỷ lệ về ít nhất mức duy trì trước khi hết hạn (Điều 7 khoản 2).
Tiếp ví dụ kiểu 1 (duy trì 35%). Giá cổ phiếu A về 15.000 đồng: tổng tài sản 150 triệu, dư nợ 100 triệu, tỷ lệ ký quỹ 33,3%, dưới 35% nên bị call. Giả định tiền nộp vào và tiền bán chứng khoán được dùng trả nợ ngay, giống cách công thức Rtt trừ tiền và tiền bán chờ về khỏi dư nợ.
- Nộp tiền. Số tiền cần nộp = Dư nợ − (1 − Tỷ lệ duy trì) × Tổng tài sản = 100 − 0,65 × 150 = 2,5 triệu đồng. Nộp xong, dư nợ còn 97,5 triệu, tỷ lệ về đúng 35%. Nếu tiền nộp chỉ nằm trên tài khoản như một tài sản chứ không trừ nợ, số cần nộp là khoảng 3,85 triệu đồng.
- Bán bớt. Tiền bán dùng trả nợ, nên giảm cả tài sản lẫn nợ. Giá trị cần bán = Số tiền cần nộp / Tỷ lệ duy trì = 2,5 / 0,35 ≈ 7,14 triệu đồng, khoảng 477 cổ phiếu ở giá 15.000 đồng (chưa tính phí và thuế).
- Bổ sung chứng khoán. Phải là mã CTCK chấp nhận làm tài sản bảo đảm. Theo kiểu 1, nếu chứng khoán bổ sung được tính đủ 100% giá trị, cần khoảng 3,85 triệu đồng. Theo kiểu 2, giá trị được nhân tỷ lệ cho vay, nên cần nhiều hơn: với mã được cho vay 50%, cần gấp đôi phần tài sản quy đổi còn thiếu.
Bán bớt cần lượng hàng gấp khoảng 2,86 lần số tiền phải nộp (1 / 0,35), vì mỗi đồng bán ra vừa giảm nợ vừa giảm tài sản. Nộp tiền giữ nguyên số cổ phiếu, nhưng đòi hỏi bạn có sẵn tiền trong thời hạn call.
Chuyển sang CTCK khác thì sao? Cách này không xử lý được call trong vài ngày. Cổ phiếu đang vay margin là tài sản bảo đảm cho khoản nợ. Ví dụ chương trình chuyển danh mục về KIS (14/07–31/12/2026) ghi rõ không hỗ trợ chứng khoán “đang cầm cố, phong tỏa hoặc chờ giao dịch”. Bạn cần trả nợ ở CTCK cũ trước rồi mới chuyển được.
Không làm gì thì đến hạn CTCK bán giải chấp theo giá và thời điểm của họ.
Vì sao cổ phiếu bị cắt margin?
Một mã bị cắt margin khi Sở giao dịch đưa mã đó vào danh sách không đủ điều kiện giao dịch ký quỹ theo các trường hợp loại trừ ở Điều 3 Quyết định 87/QĐ-UBCK (như niêm yết chưa đủ 6 tháng, bị cảnh báo, công ty lỗ, ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần), hoặc khi CTCK tự rút mã đó khỏi danh mục theo chính sách cho vay riêng. Từng nhóm lý do, số mã đợt gần nhất và cách Sở đưa mã ra khỏi danh sách nằm ở bài cổ phiếu bị cắt margin; tra từng mã ở danh sách cắt margin.
Quản lý rủi ro để hạn chế bị call margin
Các nguyên tắc dưới đây là cách quản lý khoản vay, không phải gợi ý mua bán mã nào.
1. Vay ít hơn hạn mức tối đa. Cùng 100 triệu đồng vốn, cổ phiếu A giá 20.000 đồng, tỷ lệ cho vay 50%:
| Số tiền vay | Số cổ phiếu mua | Giá call kiểu 1 (duy trì 35%) | Giá call kiểu 2 (Rtt 85%) |
|---|---|---|---|
| 100 triệu (tối đa) | 10.000 | Khoảng 15.385đ (−23,1%) | 17.000đ (−15%) |
| 50 triệu | 7.500 | Khoảng 10.256đ (−48,7%) | Khoảng 11.333đ (−43,3%) |
| 25 triệu | 6.250 | Khoảng 6.154đ (−69,2%) | 6.800đ (−66%) |
Vay một nửa hạn mức, giá phải giảm gần một nửa mới bị call, thay vì 15–23%.
2. Biết đúng công thức và ngưỡng của CTCK mình. Kiểu 1 hay kiểu 2, ngưỡng duy trì và xử lý bao nhiêu, có áp riêng cho tài khoản của bạn không. Tính giá call ngay khi mua và mỗi lần danh mục thay đổi.
3. Đặt cảnh báo giá cao hơn giá call. Dùng tính năng cảnh báo giá trên app giao dịch hoặc bảng giá bạn đang dùng, đặt ở mức trên giá call một khoảng. Nhận tin sớm cho bạn thêm thời gian xoay tiền.
4. Để sẵn nguồn tiền bổ sung. Thời hạn call ngắn (quy chế không cho CTCK đặt quá 3 ngày làm việc; SSI tối đa 2 ngày làm việc), và chạm ngưỡng xử lý thì bị bán ngay. Biết trước mình nộp tiền từ đâu, chuyển mất bao lâu.
5. Theo dõi danh sách của Sở và lịch báo cáo tài chính. Báo cáo bán niên soát xét và báo cáo năm kiểm toán là căn cứ chính để Sở loại mã. Mã có kết quả lỗ hoặc ý kiến kiểm toán ngoại trừ có thể bị cắt margin ngay sau mùa báo cáo.
6. Đọc thông báo danh mục của CTCK. Tỷ lệ cho vay và giá chặn thay đổi theo từng đợt, ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ tài khoản.
7. Tính lãi cộng dồn và ngày đến hạn. Khoản vay quá hạn chịu lãi 150% ở nhiều CTCK và có thể bị xử lý sau vài ngày làm việc.
8. Không dồn toàn bộ dư nợ vào một mã. Một mã bị cắt margin hay giảm sàn liên tiếp sẽ kéo tỷ lệ của cả tài khoản.
Muốn so tỷ lệ cho vay, giá chặn và lãi suất của cùng một mã ở nhiều CTCK, xem trang dữ liệu margin.



